Lạc loài trong rừng chè cổ thụ Lũng Phìn

Cập nhật ngày: 15:57:52 14-09-2017 Lượt xem: 1 (lần)

Sau vài ngày trải nghiệm phong cách sống của người Tày, Dao, H’Mông tại Hoàng Su Phì, Chúng tôi tiếp tục lên xe đi Đồng Văn, vượt con đèo Mã Pì Lèng đầy sương mù để thăm cao nguyên đá. Sau đó, cả nhóm quyết tâm tìm đến Lũng Phìn. Vùng đất có rừng chè cổ thụ Shan Tuyết đã tồn tại khoảng vài trăm năm.
 
Đèo Mã Pì Lèng. Ảnh: internet
 
Ngồi trên xe ngắm toàn cảnh cung đường đông bắc, cảm xúc dâng cao trong tôi khi xe đi qua những địa danh như: núi vú cô Tiên, rừng thông Na Khê, dốc M, Cổng Trời, Dốc 9 khoanh, con đường hạnh phúc. Mải nghiêng ngó đất trời, xe đến Lũng Phìn hồi nào, tôi cũng không hay biết.
 
 
Rừng thông Na Khê. Ảnh: internet
 
Nằm phía Tây huyện Đồng Văn, Lũng Phìn là  một trong những xã có tình trạng kinh tế rất khó khăn bởi địa hình đất của khu vực  này chủ yếu là núi đá vôi.  Vào hè, nguồn nước sinh hoạt của nơi này vô cùng khan hiếm. Đã vậy, do địa hình có độ cao trung bình 1600m so với mặt nước biển, Cư dân chủ yếu là người  H’Mông, Họ sống thưa thớt trên các dãy núi cheo leo, gửi đời mình vào cao nguyên đá này với nguồn kinh tế chủ yếu là trồng bắp, đậu nành, chăn nuôi bò dê, hái chè Shan tuyết và đào rễ cây thuốc trong rừng đem bán.
 
 
Người H’Mông ở Hà Giang. Ảnh: internet
 
Đưa chúng tôi thăm thôn Mao Sao Phìn, địa danh sở hữu thung lũng chè Shan tuyết có tuổi đời ước chừng 300 trăm năm có lẻ. Trên đường vào rừng chè, Hải- cậu em thổ địa Hà Giang tranh thủ kể: Shan tuyết là cái tên của người Trung Quốc đặt cho loại chè quý này nhằm phân biệt các giống chè khác . Còn ở Hà Giang, cư dân quen gọi đây là chè Tuyết bởi các cây chè này rất lạ lùng, Không hiểu sao người ta tìm thấy chúng  tồn tại trên những đỉnh núi cao, nơi mùa đông tuyết phủ trắng xóa ngọn cây. Những cây chè này kiên gan chịu đựng cái rét căm căm để khi vào Xuân, đất trời vừa ấm lên , cành cây bỗng rùng mình, nhú ra những đọt chè trắng phấn , nhìn xa như phủ đầy tuyết bám.
 
 
Rừng chè Shan tuyết. Ảnh: internet
 
Có lên đây mới biết, cuộc sống Người H’ Mông Mao sao Phìn rất nghèo-cơ cực , Cuộc đời của họ, mãi quanh năm suốt tháng bám vào vùng cao nguyên đá này,  ăn những bát ngô xay nhỏ mà ta quen gọi là mèn mén, uống những ấm chè Shan tuyết để giúp ấm bụng, tỉnh táo khi cơ thể cứ rũ xuống bởi cái lạnh chèn khắp không gian.
 
Đầu thế kỷ 20, trong những lần tìm đến cao nguyên  Đồng Văn  trao đổi và  mua bán, những người Việt xưa được cư dân thượng ngàn mời uống bát chè xanh biếc thơm hương. Từ đó danh chè Shan Tuyết được  lan truyền, vang xa khắp cõi quê Việt và vượt qua tầm biên giới.
 
Khi du lịch phát triển, các du khách đều tìm đến vùng cao  nguyên đá của vùng Đông Bắc,  mong tận mắt ngắm những cây chè cổ thụ đã bình an lưu trú trong vùng đất khắc nghiệt này, dù cơ thể chúng phải trân mình hứng chịu gió mưa cùng bão tuyết.
 
Câu chuyện của Hải vừa dứt thì xe cũng đến thung lũng chè. Mời chúng tôi tham quan thung lũng chè,, giọng Hải chợt buồn hẳn:
 
Có một điều ít ai biết, số lượng thống kê về chè Shan tuyết ở Việt Nam năm 1999 là 80000 cây. Nhưng đến nay con số ấy chẳng còn là bao nhiêu. Cây chè tổ- biểu tượng của rừng chè tuyết Suối Giàng đã chết vì già cỗi. Một lượng lớn cây khác bị thương lái Trung Quốc mua nhưng chỉ… mua  làm cành. Số khác thì bị đưa về Hà Nội làm vật trang trí và một số thì chết do làm đường…
Không biết đến thời con cháu  ta sau này, chúng có còn được trông thấy những rừng chè cổ thụ ấy nữa không?
 
Im lặng nghe Hải nói, Tôi lẩn thẩn bước tới một cây chè cổ thụ có độ tuổi hơn một thế kỷ để ngắm cây. Thú thực , lạc loài trong thung lũng hoang vắng, bóng những cây chè Shan Tuyết dường như hòa vào cả không gian xanh xanh của đất, trời, rừng và núi nên những bức ảnh tôi chụp hôm ấy rất khó tìm ra vẻ đẹp độc đáo riêng. Thế nhưng, chỉ khi được nhấm nháp , thử vị chén chè mang tên Lũng Phìn. Chúng tôi mới cảm nhận được vị thơm của chè thoảng trong không gian se se lạnh,  chén nước chè có màu xanh biếc  trông thật bắt thèm.
 
 
Thưởng thức chè Shan tuyết. Ảnh: internet
 
Điều kỳ lạ của giống chè Shan Tuyết cổ thụ là : Từ bao đời nay, cây chè tự ra hoa kết nụ và rụng để cây tự mọc. Nếu bạn ương trồng theo kiểu ghép thì cây chè sẽ không ra nụ trắng phấn như tuyết và không đủ độ tinh chất bằng cây chè tự nhiên được. Đã vậy, tại các vùng chè Shan lâu đời của Hà Giang, người dân tộc vẫn không bao giờ sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật  để thúc đẩy cây chè ra búp nhiều hơn. Dường như, quy luật thuận theo tự nhiên đà ăn sâu vào tâm thức nên dù cây chè luôn tỏa bóng xanh mát quanh năm nhưng người dân chỉ hái chè đúng 4 vụ trong năm.
 
Thông thường, Người ta thường đốn chè vào vụ Đông, đồng thời với việc phát cỏ, vun gốc... Sang xuân, vào thời điểm cuối tháng 3, đầu tháng 4, người ta bắt đầu thu hái chè vụ đầu tiên (đây là thời điểm chè cho chất lượng cao nhất). Tiếp tục thu hái vụ chè thứ 2 vào tháng 5 và tháng 6 (là vụ có năng suất cao nhất trong năm). Vụ 3 vào tháng 8 và vụ 4 vào tháng 10, tháng 11. Sau đó, người ta để chè nghỉ, không hái  búp vì như vậy khiến cây chè mau kiệt sức.
 
Để uống được bát chè  Shan Tuyết đúng vị, điều lạ lùng đã làm tôi tròn mắt là ngay cả bộ ấm chén cũng được cư dân dùng đất sét nung thật già lửa. Khi uống chè, họ chỉ tráng nước rửa sơ ấm rồi bỏ chè vào, Nếu có nước giếng đá ong hoặc nước mưa đun sôi để pha chè Shan Tuyết thì mới đạt tới đỉnh. Nhưng cách nấu nước cũng lạ, họ chỉ để sôi tim lăn tăn, như vậy nước chè mới xanh thơm tuyệt hảo.
 
Ở vùng cao này, ngoài việc uống chè thì những lá chè Shan tuyết già được cư dân sử dụng trong việc đốt xông khói giải độc, hoặc nấu nước tắm tránh các bệnh ngoài da. Do có tính sát trùng , nước chè Shan đậm cũng giúp làm se vết thương do bị  kim loại cắt vào tay chân cũng rất hiệu quả. Trong ẩm thực, người ta dùng nước chè già để khử tanh, thậm chí còn kho cá với lá chè non. Sự phối hợp này tạo nên một món ăn ngon là lạ. Riêng ở miền tây nam bộ, người dân đi biển cũng hay dùng nước chè để thế canh, món này ăn với cá khô  nướng rất ngon. Bạn hãy thử 1 lần cho biết vị nhé.
 
Hiện nay, thương hiệu chè sạch Shan tuyết quê Việt đã lan xa . Các công ty Nhật , Đài loan đã tìm đến thu mua, tư vấn và hướng dẫn người dân vùng cao này các kỹ năng ủ chè để tạo ra loại chè đen, bột chè xanh và hồng chè cao cấp. Nghe kể lại, gíá bán của những loại chè này tại các quốc gia trên cao ngất trời so với giá thu mua nhiều bậc.
 
 
Sản phẩm chè Shan tuyết khô và nước chè. Ảnh: internet
 
Trở lại Đồng Văn, ngoài việc mua ít gói chè Shan dành tặng bạn bè. Tôi cũng không quên mua  gói bột chè xanh đem về Sài Gòn, tập pha chế theo công thức hiện đại giống như chè sữa Đài loan đang khiến giới trẻ mê mẩn.
 
Cầm gói chè mộc trên tay, hít hà hương vị tự nhiên búp chè làm tâm trạng lâng lâng chợt hiểu ra, ngay cả những vùng đất khắc nghiệt nhất vẫn tồn tại bao điều hay lạ. Cũng như những cây chè cổ thụ xanh xanh này, dù chỉ im lìm tỏa bóng bên thung lũng buồn vắng nơi non cao nhưng cây vẫn thầm lặng tặng cho đời những tinh túy bao la như bà mẹ thiên nhiên đã vươn cánh tay yêu thương chở che cuộc đời bao người dân  nơi vùng cao mộc mạc.
 
Nguồn: HTA - Dương Thủy (Trung tâm Bảo tồn Nghiên cứu và Phát triển Ẩm thực Việt Nam)

 

Album Ảnh đẹp

 

  LIÊN KẾT WEBSITE

  THỐNG KÊ TRUY CẬP

Trực tuyến 25
Hôm nay 781
Trong tháng 21369
Tổng truy cập 6530836